ĐÔI LỜI
Trong Phổ hệ lập năm 1994, Ban Tục biên có ghi nhận nghiên cứu, sưu tra những Phổ hệ tộc đã được lập từ trước, trong đó có (và gần nay nhất) là “Phổ hệ tiểu tự” do Phó bảng Tri phủ Phan Trân soạn vào năm Thành Thái thứ 3 (1891), Phổ hệ này được chép từ Ngài Sơ tổ đến đời thứ 9 bằng Hán văn.
Mong muốn của tôi là được tiếp cận với bản Phổ hệ tiểu tự này, sao lưu lại và truyền lên mạng thông tin để con cháu tộc Phan dù ở phương trời nào cũng đọc được, tìm hiểu được mà có tự hào về dòng tộc. Nhưng vì nhiều lý do việc này chưa thực hiện được.
Đầu năm 2008, tôi được ông Phan Chính (2/14) giao cho một cuốn phổ hệ chép tay bằng chữ Hán từ Ngài Sơ tổ đến đời thứ 9 do ông Phan Du (*) thực hiện tại Đà Nẳng ngày thanh minh mồng mười tháng ba năm Tân hợi (tức 5-4-1971). Bên trong có các bài như Phổ hệ nguyên tự do cử nhân Phan Khắc Nhu (2/11) viết, Trùng tu Phổ hệ tiểu tự do cử nhân - trước khi thi đổ Phó bảng - Phan Trân (2/12) viết, Cung lục thiệt lục là trùng hợp với những gì đã được ghi nhận trong Phổ hệ 1994. Tuy nhiên ông Phan Du không ghi nhận là mình đã viết nên Phổ hệ này từ nguồn nào, chỉ thấy ông Phan Du ghi “Thập tam thế tôn cựu lý trưởng Du phụng tả” (cháu đời thứ 13 cựu Lý trưởng Du vâng lệnh viết). Cuối cuốn phổ hệ có “Lời phi lộ” của ba ông đời thứ 14 là Phan Chính, Phan An, Phan Nhi; trong đó ghi “... bản Phổ hệ này đã được lưu truyền qua nhiều đời, trải bao binh lửa loạn lạc, may mắn thay nhờ ơn dày của tổ tiên mà còn đến được ngày nay ... nay sao y nguyên bản thành 6 bản giao cho mỗi phái một bản...”, theo lời phi lộ thì ngày sao y thành 6 bản là ngày 30/01/1991 (tức sau khi ông Phan Du viết phổ hệ 20 năm).
Và tôi làm nhiệm vụ chép lại cuốn Phổ hệ này, ngoài việc sẽ in lại thành sách còn đưa lên mạng thông tin như mong muốn ban đầu. Làm được việc này tôi đã được hỗ trợ rất nhiều từ trang web http://sager-pc.cs.nyu.edu/~huesoft/ (*), tại đây có bộ Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu (*) và bộ Tiểu tự điển chữ Nôm (*). Tôi xin chân thành cám ơn các tác giả.
Thoạt tiên, tôi muốn bổ sung những phần ông Phan Du còn ghi thiếu so với cuốn Phổ hệ 1994, tuy nhiên sau đó tôi từ bỏ ý định này vì muốn giữ nguyên những gì ông Phan Du đã ghi chép để lại cho con cháu, đó cũng là một tưởng niệm đối với ông của con cháu mai sau. Tuy nhiên, do những lý do khách quan, tôi có thêm vào bài “Tự tự” do ông Phan Kim Huống (5/9) viết vào năm Gia Long thứ 9 (1810) cùng phần dịch chữ Quốc ngữ những bài tựa Phổ hệ cũ, và bỏ đi phần vẽ bản tông đồ.
Trong việc chép lại cuốn Phổ hệ, ngoài những sửa chữa do sai sót về chính tả, tôi có đề nghị sửa một số tên của các ông, bà ghi bằng chữ Hán với lý do:
-Trong tự điển không có chữ này (như chữ Nha của ông Phan Ngọc Nha (1/9) được ghi bằng 2 chữ Kim 金 và Nha 牙 ghép lại - Kim (*) có nghĩa dùng để nói
Thực hiện: Phan Bá Lương (2/16)
(*) 金 Kim 1-Loài kim. Phàm các vật lấy ở các mỏ mà có thể nấu chảy ra và biến hóa được hình chất đi đều gọi là kim. Như vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, ngày xưa gọi là ngũ kim 五 金 năm loài kim. Đó là kể các thứ thường dùng đó thôi, chứ loài kim thì nhiều thứ lắm.
2-Vàng. Vàng là một loài quý nhất trong loài kim, nên gọi vàng là kim.
3-Tiền. Ngày xưa cho tiền vàng là có giá trị nhất, nên tiền tệ đều gọi là kim. Tục gọi một lạng bạc là nhất kim 一 金.
4-Tiếng kim, một thứ tiếng trong bát âm. Như tiếng cái kiểng, cái thanh la gọi là tiếng kim. Ngày xưa thu quân thì khoa chiêng, nên gọi là minh kim thu quân 鳴 金 收 軍.
5-Đồ binh. Như cái giáo cái mác đều gọi là kim.
6-Sắc vàng, phàm các loài động vật thực vật mà gọi là kim đều là vì sắc nó vàng cả.
7-Bền. Như kim thành 金 城 thành bền như vàng.
8-Dùng để nói các bậc tôn quý. Như kim khẩu 金 口 miệng vàng. Nói về Phật về thần về vua chúa đều dùng chữ kim. Như kim ngôn 金 言 lời vàng, lời của các bậc thánh hiền nói.
9-Nhà Kim 金 (1115-1234), một giống rợ diệt nhà Bắc Tống 北 宋 , lấy được vùng Đông tam tỉnh Mông Cổ và phía bắc nước Tàu, truyền mười đời vua, nối đời 120 năm, sau bị nhà Nguyên 元 lấy mất.
10-Sao Kim, một ngôi sao trong tám vì sao hành tinh lớn.